Skip Ribbon Commands
Skip to main content

Các dự đoán cho thấy nhu cầu gạo toàn cầu sẽ tăng 30% vào năm 2050. Với tình hình thương mại gạo tiếp diễn và hạn chế nhất định trong việc tạo ra thặng dư gạo ở các nước sản xuất gạo như Trung Quốc và Ấn Độ, Đông Nam Á sẽ phải đối mặt với thách thức để đảm bảo đủ gạo nuôi sống thế giới.



Ít nhất 40% xuất khẩu gạo toàn cầu xuất phát từ Đông Nam Á – vựa lúa chính của thế giới. Khu vực này sẽ nuôi sống các phần còn lại của thế giới như Châu Phi và Trung Đông.

Các dự đoán cho thấy nhu cầu gạo toàn cầu sẽ tăng 30% vào năm 2050. Với tình hình thương mại gạo tiếp diễn và hạn chế nhất định trong việc tạo ra thặng dư gạo ở các nước sản xuất gạo như Trung Quốc và Ấn Độ, Đông Nam Á sẽ phải đối mặt với thách thức để đảm bảo đủ gạo nuôi sống thế giới.

Tuy nhiên, năng suất lúa trì trệ, quỹ đất dành cho nông nghiệp không tăng và biến đổi khí hậu vẫn là mối đe doạn tiềm tàng, làm dấy lên lo ngại về khả năng gìn giữ vai trò là nhà xuất khẩu ròng lớn trên thế giới.

Một nghiên cứu mới đăng trên Nature Food một nhóm các nhà nghiên cứu quốc tế, bao gồm các nhà nghiên cứu từ các quốc gia sản xuất lúa gạo lớn ở Đông Nam Á, đã ước tính sự khác biệt giữa tiềm năng năng suất và năng suất trung bình ở 6 quốc gia là Cam-pu-chia, In-đô-nê-xia, Miến Điện, Phi-lip-pin, Thái Lan và Việt Nam. Sáng kiến ​​được dẫn đầu bởi Đại học Nebraska-Lincoln ở Hoa Kỳ và Viện Nghiên cứu Lúa gạo Quốc tế (IRRI) ở Philippin.

Thông qua cách tiếp cận chuyên sâu về dữ liệu, các nhà nghiên cứu xác định rằng khu vực này có tiềm năng tăng sản lượng trên diện tích đất trồng trọt hiện có và vẫn là nhà cung cấp gạo toàn cầu chính - nhưng những thay đổi trong kỹ thuật sản xuất và quản lý sẽ là chìa khóa, và các nhà sản xuất có thể gây căng thẳng về tài nguyên thiên nhiên trong quá trình này.

Các nhà nghiên cứu nhận thấy chênh lệch năng suất trung bình đại diện cho gần một nửa tiềm năng năng suất ước tính cho khu vực, nhưng nó không giống nhau ở mọi quốc gia. Khoảng cách lợi nhuận lớn hơn ở Cam-pu-chia, Miến Điện, Phi-lip-pin và Thái Lan, nhưng tương đối nhỏ hơn ở In-đô-nê-xia và Việt Nam.

Theo nghiên cứu, khu vực này cần thu hẹp đáng kể chênh lệch năng suất hiện có để giảm nhu cầu nhập khẩu gạo, cho phép xuất khẩu tổng lượng gạo dư thừa 54 triệu tấn.

Các nhà nghiên cứu đề xuất một số biện pháp can thiệp cần thiết để thu hẹp khoảng cách, bao gồm cải thiện các thực hành quản lý cây trồng, chẳng hạn như sử dụng phân bón và tưới tiêu, chất dinh dưỡng, nước và quản lý dịch hại, cũng như giảm thiểu rủi ro sản xuất trong môi trường có mưa ở vùng đất thấp.

Nhà khoa học cấp cao của IRRI Alice Labourte cho biết : “Thách thức là làm thế nào để tăng năng suất đồng thời giảm thiểu tác động tiêu cực đến môi trường liên quan đến sản xuất lúa thâm canh. Ví dụ, quản lý chất dinh dưỡng phù hợp với từng môi trường sẽ giúp tăng năng suất và lợi nhuận của nông dân trong khi giảm thất thoát chất dinh dưỡng. Tương tự như vậy, quản lý dịch hại tổng hợp là một phương pháp tiếp cận cần nhiều kiến ​​thức nhưng có giá trị nếu được áp dụng một cách chính xác và tổng thể để giảm tổn thất năng suất do cỏ dại, sâu bệnh và bệnh tật đồng thời giảm thiểu việc sử dụng quá nhiều thuốc trừ sâu và các rủi ro liên quan đến môi trường và con người ”.

Việc thu hẹp khoảng cách năng suất lúa đòi hỏi nỗ lực phối hợp của các nhà hoạch định chính sách, nhà nghiên cứu và các dịch vụ khuyến nông để tạo điều kiện cho nông dân tiếp cận công nghệ, thông tin và thị trường. Do đó, việc tiếp tục đầu tư vào nghiên cứu lúa gạo là rất quan trọng./.

MH (Theo Eurek Alert)



30530