Skip Ribbon Commands
Skip to main content

Trong khuôn khổ Dự án “Nâng cao năng lực tuân thủ tiêu chuẩn và chất lượng của chuỗi giá trị xoài tại Đồng bằng Sông Cửu Long’’ được tài trợ bởi Cục Kinh tế Liên bang Thụy sĩ, nhằm thúc đẩy hoạt động sản xuất, kinh doanh nông sản ngày càng hiệu quả, phù hợp với xu thế mới của thế giới, nhất là thời kỳ hậu Covid-19, ngày 09/12/2022, tại TP Hồ Chí Minh, Cục Chế biến và Phát triển thị trường nông sản (AGROTRADE), Bộ Nông nghiệp và PTNT và Tổ chức Phát triển công nghiệp Liên Hiệp Quốc (UNIDO) tổ chức Hội thảo “Giải pháp chuyển đổi số và phát triển thương hiệu cho ngành trái cây Việt Nam”.


Quang cảnh Hội nghị tại thành phố Hồ Chí Minh

Thách thức và cơ hội cho xuất khẩu rau quả Việt Nam sau dịch bệnh Covid-19

Dịch covid-19 xảy ra trên khắp thế giới gây thiệt hại lớn về người về của và những nguồn lực của xã hội, trong đó rau quả là những sản phẩm hàng hóa chịu sự tàn phá nhiều nhất. Mùa màng thất bát do không được chăm sóc, sản phẩm không được thu hái kịp thời / thu hái nhưng không có nơi và phương tiện bảo quản thích hợp, không tiêu thụ được, bên cạnh đó là tác động của các biện pháp phòng chống dịch tiêu cực của con người đã phá hủy những thành quả do chính con người làm ra. Chúng ta không bao giờ quên được cảnh gần chục ngàn container rau củ quả của Việt Nam phải nằm chờ hàng tháng trời tại cửa khẩu, hàng trăm ngàn tấn rau quả hư hỏng phải đổ bỏ.

Rau quả là sản phẩm của ngành trồng trọt trong nông nghiệp, nhưng không giống các loại như ngũ cốc, cà phê, hạt tiêu, hạt điều, macadamia...,rau quả rất dễ hư hỏng, trong suốt quá trình trồng trọt, chăm sóc, thu hái, chế biến, bảo quản, vận chuyển và phân phối. Thời gian bảo quản ngắn vì hầu hết các loại rau quả được xử dụng dưới dạng tươi sống. Thành phần của rau quả chiếm đến 70-80% là nước. Với tính chất tự nhiên đặc biệt đó nếu không được xử lý kịp thời và hợp lý rau quả sẽ hư hỏng rất nhanh. Người ta thường nói “sáng tươi chiều héo tối đổ đi” để nhắc nhở mọi người cần có sự đối xử đặc biệt với rau quả. Sản xuất, thu hái, phân loại, bảo quản, chế biến rau quả tươi là một công việc tốn nhiều công sức và tiền bạc và cũng tại đây cuộc chiến giữa con người và sinh vật gây hại vẫn chưa bao giờ dừng lại nhằm giảm thiểu tỷ lệ hư hỏng của rau quả sau thu hoạch.

Khi trải qua dịch bệnh, chúng ta cũng nhận ra những yếu điểm và tồn tại thường ngày chúng ta hay bỏ qua mà không phải trả giá. Dịch bệnh đã chỉ ra cái giá chúng ta sẽ phải trả trong tương lai. Giờ đây dịch bệnh đã được kiểm soát, những bài học, những kinh nghiệm chúng ta có được sẽ là hành trang đương đầu với những thách thức mới và đón nhận cơ hội mới.

Ông Nguyễn Quốc Toản – Cục trưởng Cục Chế biến và Phát triển thị trường nông sản phát biểu tại Hội nghị

Theo ông Nguyễn Quốc Toản - Cục trưởng Cục Chế biến và Phát triển thị trường nông sản trao đổi tại hội nghị: “Trong những năm qua, ngành nông ngiệp Việt Nam đang thực hiện tái cấu trúc lại với tầm nhìn dài hạn, xây dựng nền nông nghiệp có chất lượng, có trách nhiệm, có tính giải trình, có sự kiến tạo. Ngành trái cây là ngành nông sản chủ lực, để vươn lên thích ứng thì đòi hỏi khắt khe về tiêu chuẩn chất lượng thị hiếu tiêu dùng, năng lực quản trị của ngành hàng. Đó là lý do chuyển đổi số ngành nông nghiệp được Chính phủ xác định là một trong tám lĩnh vực ưu tiên trong chuyển đổi số. Chuyển đổi số phải bắt nguồn từ các doanh nghiệp, người nông dân, có những động lực kinh doanh mới, thị hiếu người tiêu dùng… mới thúc đẩy mạnh mẽ chuyển đổi số. Chuyển đổi số là một hành trình đòi hỏi tất cả các bên cùng chung tay, cùng nghĩ đúng, làm đúng, phương pháp đúng, có cách tiếp cận cùng nhau với những bước đi đầu tiên vững chắc để xuất khẩu nông sản tạo ra giá trị bền vững”.

Mặc dù hiện nay với những tiến bộ của khoa học kỹ thuật chúng ta có thể giảm bớt sự tác động và hạn chế thiệt hại do thiên nhiên gây ra nhưng sức mạnh của con người không thể thắng được sức mạnh thiên nhiên. Việt Nam là 1 trong 5 quốc gia chịu tác động nặng nề nhất của biến đổi khí hậu toàn cầu: tình trạng nước biển xâm nhập sau vào các tỉnh đồng bằng Sông Cửu Long; sạt lở bờ biển xảy ra ở nhiều vùng; thiên tai, bão lũ nhiều hơn, cường độ và mức tàn phá lớn hơn; hạn hán thiếu nước ở nhiều vùng. Đây là những thách thức rất lớn đối với sự phát triển rau quả của Việt Nam trong những năm tới đây.

Sản xuất theo nhu cầu thị trường. Trước dịch bệnh chúng ta vẫn thường nói rau quả của chúng ta không có thị trường, bằng chứng là nhiều sản phẩm của chúng ta sản xuất ra không bán được và nhiều chiến dịch giải cứu đã được thực hiện. Câu nói “được mùa mất giá, mất mùa được giá” dùng để nói đến sự yếu kém về công tác thị trường trong ngành rau quả. Điều này chỉ đúng một phần, nói chính xác thị trường luôn luôn có nhu cầu, nhưng đặc điểm của nó là hay thay đổi. Chính sự biến động liên tục của thị trường đã làm cho người sản xuất khó nắm bắt được chính xác nhu cầu của nó. Sản xuất nông nghiệp có tính chu kỳ, chu kỳ trong sản xuất nông nghiệp và chu kỳ của thị trường không giống nhay, sự lệch pha này làm cho tính toán của người sản xuất nhiều khi trở thành vô nghĩa. Sau dịch bệnh sản xuất theo nhu cầu thị trường vẫn luôn kà thách thức đối với người sản xuất và xuất khẩu rau quả Việt Nam.

Thị trường tiêu thụ lớn nhất rau quả của Việt nam đã thay đổi. Các thị trường khác cũng thường xuyên bổ sung những quy định mới vào hệ thống rào cản, phòng vệ thương mại của mình. Thách thức đối với xuất khẩu rau quả Việt Nam là sự thay đổi của thị trường nhập khẩu rất nhanh và ngày càng khắt khe trong khi sản xuất rau quả của Việt Nam vẫn là sản xuất nhỏ với tập quán thói quen lạc hậu, chất lượng sản phẩm chưa cao khó đáp ứng nhu cầu của người mua.

Hội nhập càng sâu rộng thách thức càng nhiều. Ở thị trường nước ngoài, bên cạnh việc phải thay đổi mình để tuân thủ các quy định của thị trường nhập khẩu vừa phải cạnh tranh với các doanh nghiệp bản địa vừa phải cạnh tranh với các đối thủ đến từ các quốc gia khác. Ở thị trường trong nước, khi mở cửa hội nhập ngành rau qỉa Việt Nam phải cạnh tranh với sản phẩm cùng loại từ nước ngoài với những đối thủ có tiềm lực hùng hậu hơn về tài chính, khoa học, kỹ thuật cao hơn đó là thách thức to lớn.

Thách thức lớn nhất vào thời điểm này là tình hình dịch bệnh Covid-19 tại Trung Quốc vẫn diễn biến phức tạp mặc dù Trung Quốc đã dỡ bỏ từng phần lệnh cấm nhưng thời gian để dịch được kiểm soát và việc dỡ bỏ hoàn toàn các lệnh cấm để hoạt động rau quả của Việt Nam vào Trung Quốc trở lại bình thường chưa được xác định.

Bên cạnh đó, cơ hội cho xuất khẩu rau quả Việt Nam là rất lớn, Việt Nam là đất nước có phong cảnh thiên nhiên xinh đẹp, được thiên nhiên ưu đãi có nhiều ưu đãi văn hóa lịch sử thu hút, có nhiều loại trái cây đặc sản, nghệ thuật ẩm thực… thu hút khách quốc tế. Việt Nam hội nhập sâu với thế giới, có quan hệ với 189 quốc gia và vùng lãnh thổ, là thành viên của nhiều tổ chức quốc tế có uy tín toàn cầu và khu vực, Việt Nam đã ký 15 Hiệp định thương mại tư do song phương và đa phương.

Việt Nam là nước có sự ổn định chính trị - xã hội cao, nền kinh kế là nền kinh tế thị trường, năng động, tốc độ tăng trưởng cao hàng đầu thế giới (8%/năm/2022). Việt Nam đang tiếp tục đổi mới mô hình tăng trưởng để phát triển nhanh và bền vững trên nền tảng khoa học - công nghệ và nguồn nhân lực chất lượng cao, điều này tạo ra cơ hội cho kinh tế Việt Nam phát triển nhanh, bền vững trong những năm tới.

Cách mạng 4.0 đang được triển khai trong nhiều lĩnh vực kể cả trong sản phẩm nông nghiệp Việt Nam. Cơ giới hóa, tự động hóa, số hóa, kinh tế tuần hoàn, giảm phát thải đang áp dụng rộng rãi tại Việt Nam. Nền kinh tế số của Việt Nam có tốc độ tăng trưởng rất cao dẫn dầu các nước Đông Nam Á trong năm 2021-2022, dự kiến sẽ dẫn đầu 51 nền kinh tế số trên thế giới giai đoạn 2022-2026 (theo FT-Mdia), cơ hội lớn cho rau quả Việt Nam tham gia vào sản giao dịch thương mại điện tử hàng đầu thế giới.

Song song với đó, Chính phủ Việt Nam đã ban hành nhiều chính sách có tính chất mở đường, hỗ trợ và khuyến khích sản xuất nông nghiệp phát triển. Đây là những cơ hội vàng cho sản xuất và xuất khẩu rau quả Việt Nam.

Đối với thị trường quốc tế (Trung Quốc, Hoa Kỳ, Nhật Bản, Hàn Quốc, New Zealand ...) tiếp tục mở cửa cho trái cây Việt Nam như: Sầu riêng, khoai lang, tổ yến, chuối, bưởi, chanh dây.

Giải pháp để đẩy mạnh xuất khẩu rau quả sau dịch bệnh

Đề xuất một số chính sách khuyến khích sản xuất, xuất khẩu trái cây như: đầu tư phát triển vùng nguyên liệu tập trung; Nhà nước và người dân cùng làm, đầu tư cơ sở hạ tầng trong chuỗi sản xuất, chế biến, bảo quản, phân phối, xuất khẩu trái cây; phát triển ngành công nghiệp chế biến rau quả hiện đại, nâng cao năng lực chế biến và cung ứng các sản phẩm thị trường.

Bà Bachmann Sibylle EDA BACSI - Phó Trưởng Ban hợp tác SECO, Cục Kinh tế Liên bang Thụy Sĩ phát biểu tại Hội nghị

Bà Bachmann Sibylle EDA BACSI - Phó Trưởng Ban hợp tác SECO, Cục Kinh tế Liên bang Thụy Sĩ chia sẻ thêm “Trong khuôn khổ của dự án giúp Việt Nam phát triển kinh tế thị trường và bền vững, hỗ trợ kiến thức các hoạt động xuất khẩu, các chuỗi cung ứng trong nước tiếp cận với chuỗi cung ứng toàn cầu, quảng bá chuỗi giá trị trong ngành trái cây phù hợp với thị trường trong nước và thế giới. Chuỗi cung ứng toàn cầu khá phức tạp, Việt Nam đã bắt đầu phát triển để hoàn thiện, là động lực thúc đầy cho ngành trái cây, việc chuyển đổi số giúp người dân và doanh nghiệp thuận lợi hơn trong việc chế biến và xuất khẩu, do đó cần cân nhắc kỹ lưỡng, chính sách phù hợp và minh bạch với các cơ sở dữ liệu, hiểu được lợi ích số hóa, Chính phủ đưa ra các chính sách thực hiện số hóa, truyền tải đúng đến người dân, doanh nghiệp để thực hiện và cần chung tay của các bên liên quan biến mong muốn trở thành hiện thực đẩy mạnh cho ngành trái cây Việt Nam phát triển bền vững”.

Xây dựng các giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu rau quả:

Một là, tổ chức sản xuất rau quả theo nhu cầu thị trường, tuân thủ nghiêm ngặt các quy định của thị trường nhập khẩu. Ứng dụng công nghệ cao, kinh tế tuần hoàn, kinh tế số đẩy mạnh sản xuất rau quả: VietGap, GlobalGap.. xây dựng mã số vùng trồng, mã số đóng gói, truy xuất nguồn gốc, vệ sinh an toàn thực phẩm.

Hai là, khai thác tối đa chiều rộng và chiều sâu thị trường Trung Quốc, xuất khẩu chính ngạch là chủ lực, tận dụng tiểu ngạch linh hoạt, hiệu quả.

Ba là, tiếp tục đàm phán mở cửa cho nhiều loại sản phẩm rau quả Việt Nam xuất khẩu vào các thị trường lớn và các thị trường mới.

Bốn là, liên kết sản xuất tiêu thụ theo mô hình mới, xây dựng chuỗi cung ứng bền vững, chuỗi giá trị ngành hàng có giá trị tăng cao.

Năm là, áp dụng công nghiệp 4.0 vào hoạt động sản xuất rau quả Việt Nam.

Sáu là, tổ chức lại bộ máy hiệp hội, bổ sung thêm các tổ chức cơ sở theo ngành hàng như liên chi hội xoài, thanh long, sầu riêng, nhãn, vải… theo địa bàn… hỗ trợ để bộ máy cơ sở hoạt động hiệu quả để tận dụng nguồn lực chuyên gia, tài chính trong và ngoài nước nhằm phát triển từng ngành hàng được nhanh, bền vững hơn.

Chuỗi cung ứng là giải quyết những thông tin giữa bên mua và bên bán, thông tin phải chuẩn và tin cậy, với chi phí, công cụ phù hợp, nguồn lực tài chính và nhân lực còn hạn chế. Những lô hàng xuất khẩu bị trả lại do những thông tin không được cung cấp kịp thời. Hệ thống cảnh báo an toàn thực phẩm ở Châu Âu, 40% sản phẩm bị trả lại do việc ghi nhãn chưa đúng theo yêu cầu của Châu Âu rất chặt chẽ như các thực phẩm chế biến. Hiện nay, Trung Quốc đang đặt ra nhiều tiêu chuẩn khắt khe và chặt chẽ hơn so với trước đối với mặt hàng nông sản. Chuyển đổi số sẽ giúp xóa bỏ các rào kỹ thuật…

Về chuyển đổi số trong cung ứng nông nghiệp nhằm tăng tốc xuất khẩu cần lưu ý những khía cạnh như: xác định đối tượng tham gia chuỗi cung ứng (sản xuất, chế biến/đóng gói, xuất khẩu, vận chuyển, nhập khẩu, bán buôn, bán lẻ, bảo hiểm, ngân hàng, cung cấp dịch vụ thử nghiệm, giám định, nhà nước, người tiêu dùng); thông tin cần được số hóa và chuẩn hóa các trường thông tin; kiểm soát chất lượng trái cây xuất khẩu; thu thập và chia sẻ dữ liệu (vùng trồng, chế biến, sơ chế, đóng gói); mạng lưới chia sẻ thông tin hàng hóa toàn cầu, Việt Nam chưa có mạng lưới thông tin hàng hóa toàn cầu, nên hiện nay đang có hướng xây dựng để tham gia mạng lưới hàng hóa toàn cầu.

Cao Phúc

Trung tâm Khuyến nông – Giống CTVN&TS Đắk Lắk



31479